Chia sẻ lên:
Giải pháp ngành mây tre

Giải pháp ngành mây tre

Mô tả chi tiết

Ở nước ta, ngành mây, tre gắn liền với cuộc sống của người dân nhiều vùng nông thôn, đồng bào 

 
dân tộc thiểu số. Trong đó hơn một triệu người sống ở các gia đình có thu nhập từ mây, tre. Tuy 
 
nhiên, việc trồng, khai thác, chế biến sản phẩm từ mây, tre ở nước ta vẫn chưa phát huy hết tiềm 
 
năng sẵn có do thiếu vùng nguyên liệu, khai thác quá mức đến cạn kiệt.
 
Hiện nay, diện tích tre nứa toàn quốc là gần 1,4 triệu ha (chiếm 10,5% diện tích rừng toàn quốc). Về 
 
tài nguyên song mây, ước tính nước ta có khoảng 30 loài song mây (trong đó có 10 loại có giá trị kinh 
 
tế cao) thuộc sáu chi, phần lớn diện tích được phân bố và khai thác ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, 
 
Gia Lai, Đác Lắc, Đồng Nai, Quảng Nam... Điều đáng nói là tre nứa, song mây có biên độ sinh thái 
 
rộng, có khả năng gây trồng tập trung ở các vùng đồi núi, đồng thời có thể gây trồng phân tán. Không 
 
những vậy, việc trồng, khai thác, chế biến tre nứa, song mây đang góp phần giải quyết việc làm, xóa 
 
đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống cho một bộ phận gia đình sinh sống dựa vào rừng. Qua khảo sát 
 
ở những địa phương có điều kiện gây trồng, chế biến tre nứa, song mây đã mang lại những hiệu quả 
 
kinh tế rõ rệt. Điển hình như trồng luồng ở tỉnh Thanh Hóa đã tạo thu nhập cho 30% số gia đình, với 
 
thu nhập gần 100 nghìn đồng/ngày/lao động. Hay trồng thâm canh mây nếp ở tỉnh Thái Bình, sau 
 
năm năm trồng có thể thu lãi ổn định từ 60 đến 90 triệu đồng/ha/năm... Ngoài ra, hiện nay cả nước 
 
có 723/2.017 làng nghề chế biến mây, tre đan và hơn một nghìn doanh nghiệp quan tâm đến sản 
 
xuất và xuất khẩu thủ công mỹ nghệ, trong đó có mặt hàng mây, tre đan, thu hút 342 nghìn lao động. 
 
Theo đánh giá, hằng năm nước ta tiêu thụ từ 400 đến 500 triệu cây tre nứa và từ 600 đến 800 tấn 
 
song, mây nguyên liệu để sản xuất các mặt hàng tiêu dùng và phục vụ xuất khẩu.
 
 Picture
 
Mặc dù có nhiều tiềm năng, lợi thế để trồng và phát triển tre nứa, song mây nhưng nước ta vẫn phải 
 
nhập khẩu nguyên liệu song mây cho sản xuất chế biến từ một số nước trong khu vực với nhu cầu 
 
khoảng 33 nghìn tấn/năm. Trong khi đó thị phần xuất khẩu của ngành mây tre Việt Nam mới chỉ 
 
chiếm chưa đến 3% thị trường thế giới. Theo Tổng cục Lâm nghiệp, nguyên nhân là do thiếu các 
 
vùng trồng tập trung quy mô từ 30 đến 50 nghìn ha địa hình các vùng có phân bố tre nứa khó khăn 
 
giải pháp lâm sinh ứng dụng cho rừng tre nứa còn nhiều hạn chế tình trạng khai thác quá mức dẫn 
 
đến thoái hóa các bụi tre, luồng năng suất, giá trị tre gây trồng thấp chưa có kế hoạch khai thác 
 
theo hướng bền vững. Đối với tài nguyên song mây thì do khai thác và xuất khẩu nguyên liệu thô ồ 
 
ạt, thiếu quy hoạch, quản lý cho nên đã cạn kiệt... Cũng theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát 
 
triển nông thôn Hồ Xuân Hùng thì chính sách phát triển tre ở nước ta chủ yếu để làm vật liệu cho 
 
ngành xây dựng cho nên hiệu quả thấp, người dân không hào hứng. Chẳng hạn, ở miền bắc, giá chỉ 
 
50-70 nghìn đồng/cây tre, còn ở miền nam cao hơn, khoảng 100-140 nghìn đồng/cây, nhưng ở các 
 
nước khác thì giá cao gấp từ năm đến bảy lần. Còn theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hiện nay 
 
giống tre của Việt Nam có tỷ lệ sử dụng rất thấp khoảng 35-40%. Loại tre có tỷ lệ sử dụng cao ở Việt 
 
Nam chỉ chiếm khoảng 10% diện tích. Còn cây song, gần như phải nhập khẩu hoàn toàn, trong khi 
 
diện tích cây mây còn hạn chế.
 
Theo dự báo thị phần sản phẩm mây, tre đan của Việt Nam trên thế giới trong giai đoạn 2010-2015 
 
là khoảng 12%.  Để đáp ứng việc tăng trưởng như vậy thì nhu cầu nguyên liệu tre nứa đến năm 2020 
 
cần ít nhất một tỷ cây tre, nứa/năm. Vì vậy bên cạnh việc bảo tồn và phát triển tre, nứa trong rừng 
 
tự nhiên (khoảng 1,3 triệu ha) và rừng trồng (khoảng 88.000 ha) hiện có, từ nay đến năm 2020, nước 
 
ta cần gây trồng mới thêm khoảng hơn 60 nghìn ha tre, luồng, nâng tổng số lên hơn 1,5 triệu ha. 
 
Cũng theo xu hướng phát triển, thì đến năm 2020, dự kiến nhu cầu mây nguyên liệu để sản xuất, chế 
 
biến cần khoảng 100 nghìn tấn. Hiện nay, chúng ta phải nhập khoảng 33 nghìn tấn mây mỗi năm từ 
 
các nước khác. Tuy nhiên theo các chuyên gia việc nhập khẩu sẽ ngày một khó khăn do chính sách 
 
thắt chặt xuất khẩu của một số nước. Do vậy, để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu trong nước bên cạnh 
 
việc bảo tồn và phát triển nguồn nguyên liệu hiện có thì chúng ta cần gây trồng mới khoảng 15 nghìn 
 
ha.
 
Về vấn đề này, Vụ trưởng Kinh tế ngành (Văn phòng Chính phủ) Nguyễn Tuấn Phú cho rằng, Chính 
 
phủ xác định cây tre là cây công nghiệp đặc biệt và định hướng chính sách phát triển ngành mây, tre 
 
nhằm khai thác mạnh mẽ những thuộc tính giá trị của loại cây này để góp phần thúc đẩy phát triển 
 
kinh tế đất nước. Để khắc phục những khó khăn trên, ngành lâm nghiệp cần xây dựng chiến lược quy 
 
hoạch để bảo tồn và khai thác có hiệu quả nguồn nguyên liệu mây, tre. Bên cạnh nguồn nguyên liệu 
 
mây, tre phân bố sẵn trong rừng tự nhiên, cần nghiên cứu, tuyển chọn, lai tạo phát triển các loài 
 
mây, tre có giá trị kinh tế cao, quy hoạch phát triển thành vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn. 
 
Còn theo Tổng cục Lâm nghiệp, cần thiết xây dựng và ban hành chính sách hỗ trợ đầu tư để khuyến 
 
khích phát triển mây, tre hoàn thành giao đất, giao rừng cho các thành phần kinh tế, các tổ chức xã 
 
hội, hộ gia đình để bảo đảm quyền sở hữu thực sự nhằm bảo tồn và phát triển vùng nguyên liệu... 
 
Bên cạnh đó, cần hỗ trợ các hiệp hội chuyên ngành, hỗ trợ mạng lưới mây tre đan Việt Nam nhằm 
 
tăng cường khả năng cung cấp thông tin về thị trường, tăng tính liên kết để giải quyết các vấn đề liên 
 
quan đến lao động, thị trường... Để phát triển ngành sản xuất mây, tre bền vững trong thời gian tới, 
 
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất nhiều chính sách phát triển như quy hoạch phát 
 
triển vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến, quy hoạch xác định vùng nguyên liệu tự nhiên, 
 
cung cấp cho các vùng làng nghề thủ công truyền thống. Công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành 
 
mây, tre cũng cần được chú ý, mở thêm các cơ sở dạy nghề về mây, tre, giang đan...

Xem thêm các sản phẩm liên quan
Cải thiện nguyên liệu sợi từ cây tre
Cải thiện nguyên liệu sợi từ cây tre
TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN
TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN
Cây Tre cứu người
Cây Tre cứu người
Tre giống xuất ngoại
Tre giống xuất ngoại
Cấy tre - Quốc mộc Việt Nam
Cấy tre - Quốc mộc Việt Nam
Tre luồng Việt Nam qua những con số
Tre luồng Việt Nam qua những con số
Tại sao phải phát triển tre luồng
Tại sao phải phát triển tre luồng
Cơ hội đầu tư sản xuất tre ép khối
Cơ hội đầu tư sản xuất tre ép khối
Giải pháp ngành mây tre
Giải pháp ngành mây tre
Kỹ thuật trồng cây luồng
Kỹ thuật trồng cây luồng
Những công dụng của cây tre
Những công dụng của cây tre